Đang tải... Vui lòng chờ...

Thời tiết
Hôm nay
Ngày mai
Lượt truy cập

TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ CAO NHẤT MIỀN BẮC VÀ 48 ĐẠI NGUYỆN CỦA NGÀI

Công viên nghĩa trang Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên - một trong những nghĩa trang đẹp bậc nhất Việt Nam, toạ lạc tại vùng đất sơn thuỷ hữu tình được bao quanh bởi núi Nghĩa Lĩnh, đền Hùng và dãy Tam Đảo là một trong tứ đại Long Mạch của nước Việt Nam ta. Tổng diện tích là 100ha gồm có 9 quả đồi bao quanh một hồ nước tự nhiên. Nhiều chuyên gia phong thuỷ đánh giá nơi đây là một vị trí đắc địa về mặt tâm linh, khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, hùng vĩ.

Khách hàng đến thăm quan công viên Thiên Đức

     Để phát huy ý nghĩa tốt đẹp này Công ty Thiên Đức chúng tôi đã nghiên cứu và xây dựng những công trình kiến trúc cũng mang đậm ý nghĩa phong thuỷ tâm linh. Trên đồi Kim Quy có đặt pho tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát cao 12m, như là biểu tượng của tấm lòng hiếu nghĩa đối với đấng sinh thành và là đấng bề trên nâng đỡ các vong hồn về với cửa phật.

     Trên đồi Đại An - Quả đồi cao nhất của dự án, trên đỉnh đồi có đặt pho tượng Đức Phật A Di Đà cao 48m với ý nghĩa là 48 tám lời nguyện của Đức Phật A Di Đà. Cây có cọi, nước có nguồn. Phật tử phần nhiều tu pháp môn niệm Phật để cầu sanh về Tịnh độ (Cực lạc), thì phải hiểu biết lịch sử của Đức Phật A Di Đà thế nào. 

     Đức Phật A Di Đà có công đức rất lớn và hạnh nguyện rất quảng đại. Ngài có nhân duyên hóa độ chúng sanh ở thế giơi Ta Bà này rất nhiều.

     Muốn cho chúng sanh cõi này vượt khỏi kiếp lầm than của những cái khổ, già, bệnh, chết, nên Đức Phật Thích Ca nói rõ nhân địa hạnh nguyện của Phật A Di Đà và khai thị pháp môn Tịnh độ tu hành rất dễ dàng. Từ thượng lưu trí thức đến hạng dân thường, nếu ai chuyên tu, cũngđều được vãng sanh cả.

Giải nghĩa danh hiệu " A Di Đà "

     A Di Đà là dịch âm chữ Amita. Tàu dịch nghĩa là Vô Lượng Thọ và Vô Lượng Quang. Vô Lượng Thọ nghĩa là tuổi sông lâu không có số lượng; Vô lượng Quang, là Ngài có hào quang sáng suốt không lường.

Lược sở tu nhân và chứng quả của Đức Phật A Di Đà

     Chỗ nhân địa của Đức Phật A Di Đà ở kiếp trước rất nhiều, không  thể kể xiết, nay lược nói 4 kiếm như sau:

1- Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở phẩm thí dụ hóa thành có phép:

     " Đức Phật A Di Đà, kiếp trước là con của đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Ngài nhờ công đức thường giảng kinh Pháp Hoa cho chúng sanh nghe, nên thành phật hiệu là A Di Đà, ở cõi Tây Phương Cực lạc".

2- Kinh quán Phật Tam Muội Hải, chép:

     " Đời quá khứ Ngài làm Tỳ kheo, chăm lòng kính lễ quán trưởng tướng long mày trắng của đức Phật Không Vương, nên được thọ ký làm Phật hiệu là A Di Đà".

3- Kinh Bi Hoa, chép:

     Đời quá khứ hằng sa kiếp trước, NGài là vua Chuyển Luân tên là Vô Thành Niệm. Ngài có một quan Đại thần tên là Bảo Hải, rất giàu lòng tín ngưỡng. Một hôm vua nghe đức Phật Bảo Tạng đến thuyết pháp tại vườn Diêm Phù ở gần bên thành, Ngài với quan Đại thần Bảo Hải liền đến nghe và rất hài lòng. Vua phát tâm thành Phật và đại chúng vào vương cung cúng dường trọn ba tháng để cầu phúc báo.

     Đức Phật khuyên vua nên phát Bồ đề tâm cầu đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

     Khi đó đức Phật Bảo Tạng liền phóng hào quang sáng trời, soi khắp cả thế giới của chư Phật mười phương, cho chúng hội đồng thấy. Bảo Hải đại thần liền tâu với vua Vô Tránh Niệm: "Nay Bệ hạ nhờ oai thần của Phật, được thấy các thế giới, vật Bệ hạ muốn cầu lấy thế giới nào?".

     Vua đảnh lễ Phật, quỳ gối chắp tay phát lời đại nguyện, cầu xin sau khi tu hành thành Phật, quốc độ và nhân dân của Ngài, đều được trang nghiêm thanh tịnh. Do nhân duyên ấy, sau Ngài thành Phật hiệu là A Di Đà ở cõi Tây phương Cực lạc.

4- Phật Thích Ca nói:

     " Đời quá khứ lâu xa, cách hơn 10 kiếp, có một nước tên là Diệu Hỷ, vua cha là Nguyệt Thượng Luân vương, mẹ là Thủ Thắng Diệu Nhan. Vương hậu san ra ba người con: người con trưởng là Nhựt Nguyệt Minh, người thứ hai là Kiều Thi Ca, người con thứ ba là Nhật Đế Chúng. Khi ấy có đức Phật ra đời hiệu là Thế Tự Tại vương Như Lai. Kiều Thi Ca bỏ ngôi vinh quí theo Phật Thế Tự Tại xuất gia, thụ Tỳ kheo giới. Phật cho hiệu là Pháp Tạng Thỳ kheo. Ngài Pháp Tạng đối trước Phật, phát 48 lời nguyện rộng lớn, độ khắp tất cả mười phương chúng sanh; nếu có một nguyện nào chẳng viên mãn, thì Ngài thề chẳng thành Phật. Khi ấy chư thiên rải hoa, tán thán, quả đất rúng động, giữa không trung có tiếng khen rằng:

     " Pháp Tạng quyết định sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà"

     Như thế, chúng ta biết rằng, đức Phật A Di Đà thiền thân là Thái Tử Kiều Thi Ca, bỏ ngôi sang, xuất gia tu chứng thành quả Phật là A Di Đà.

48 ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ

     Nguyện thứ 1: Lúc tôi thành Phật, nếu trong cõi nước tôi, có địa ngục ngã quỉ, súc sanh, thời tôi không ở Chánh giá.

     Nguyện thứ 2: Lúc tối thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, sau khi họ chung, còn trở lại sa vào ba ác đạo, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 3: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, thân chẳng màu vàng tất cả, thời tôi không ở ngôi Cháng giá.

     Nguyện thứ 4: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, thân hình có kẻ tốt người xấu chẳng đồng nhau, thì tôi không ở ngôi Chánh giá.

     Nguyện thứ 5: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng có Túc mạng thông, ít nhất là biết rõ những việc trăm nghìn ức na do tha kiếp ( vô số kiếp ) thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 6: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, chẳng đặng Thiên nhãn thông, ít nhất là thấy rõ trăm nghìn ức na do tha thế giới của chư Phật, thì tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 7: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, chẳng được Thiên nhĩ thông, ít nhất là nghe và thọ trì tất cả lời thuyết pháp của trăm nghìn ức na do tha đức Phật, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 8: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng được Tha tâm thông, ít nhất là biết rõ những tâm niệm của tất cả chúng sanh, trong trăm nghìn ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Cháng giác.

     Nguyện thứ 9: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên, trong cõi nước tôi, chẳng đặng thần túc thông, khoảng một niệm, ít nhất là đi qua khỏi trăm nghìn ức na do tha thế giới thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 10: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, còn có quan niệm tham chấp lấy thân, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 11: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, chẳng trụ định tu, nhẫn đến trọn diệt độ, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 12: Lúc tôi thành Phật, nếu quang minh còn hữu hạn, ít nhất cũng chiếu thấu trăm nghìn na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 13: Lúc tôi thành Phật, nếu thọ mạng còn hữu hạn, ít nhất cũng trên trăm nghìn ức na do tha kiếp, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 14: Lúc tôi thành Phật, chúng Thanh Văn trong cõi nước tôi, nếu có ai tính đếm được bao nhiêu, dầu đó là vô lượng Bích Chi Phật đồng tính đếm trong nghìn kiếp, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 15: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, thọ mạng còn hữu hạn, trừ người có bổn nguyện riêng, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 16: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhớn thiên trong cõi nước toi, còn có người nghe danh từ bất thiện, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 17: Lúc tôi thành Phật, nếu vô lượng chư Phật trong thập phương thế giới, chẳng đều ngợi khen xưng danh hiệu tôi, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh, chí tâm tín mộ, muốn sanh về cõi nước tôi, nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, thời tôi không ở ngôi Chánh giác; trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chánh pháp.

    Nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng snh phát bồ đề tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 20: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi, và tu các công đức, chí tâm hồi hướng, muốn sách về cõi nước tôi, tất cả chẳng đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhươn, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thư 21: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, tất cả chẳng đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 22: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở cõi khác sanh về nươc tôi, cứu cánh đều quyết đến bực Nhứt sanh bổ xứ, trừ người có bổn nguyện riêng, tự tại hóa hện, vì chúng sanh mà phát hoằng thệ nguyện, tu các công đức, độ thoát mội loài, đi khắp thế giới, tu Bồ tát hạnh, cũng dường thâp phương chư Phật, khai hóa vô lượng chúng sinh, làm cho tất cả đều đứng vững nơi đạo vô thượng Cháng giác, siêu xuất công hạnh của các bực thông thường, hiện tiền tu tập Đại nguyện của Ohoor hiề, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chánh Giác.

     Nguyện thứ 23: Lúc tôi thành Phật, các Bồ tát trong cõi nước tôi, thừa thần lực của Phật, mà đi cúng dường thập phương chư Phật, trong khoảng thời gian một bữa ăn, nếu không đến khắp vô lượng vô số ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 24: Lúc tôi thành Phật, các Bồ tát trong cõi nước tôi, khi ở nước thập phương chư Phật, hiện công đức của mình, muốn có những vật cúng dường, nếu không được đúng nư ý muốn, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 25: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát trong cõi nước tôi, không được nhứt thế trí, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 26: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát trong cõi nước tôi, chẳng đều được thần kim cương Na la diên, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 27: Lúc tôi thành Phật thì trong cõi nước tôi, tất cả đồ dùng của nhơn thiên, hình sắc đều sáng đẹp, rất tột vi diệu, không có thể tính biết, đàu là   người được thiên nhãn. Nếu có người biết danh số các đồ vật ấy được rõ ràng, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 28: Lúc tôi thành Phật, nếu Bồ tát trong cõi nước tôi, dầu là người ít công đức nhứt, chẳng thấy hết được cỗi cây đạo tràng cao, bốn trăm muôn do tuần, vô lượng quang sắc, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 29: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát trong cõi nước tôi, nếu thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 30: Lúc tôi thành Phật, nếu có ai hạn lượng được trí huệ biệ tài của Bồ tát trong cõi nước tôi, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 31: Lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi thanh tịnh, các nơi đều soi thấy tất cả vô lượng vô số bất tư nghị thế giới ở mười phương, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng được như thế thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 32: Lúc tôi thành Phật, trong cõi nước tôi từ mặt đất tràn lên đến hư không, lầu nhà cung điện ao nước hoa cây, tất cả vạn vật đều là vô lượng chất báu và trăm nghìn thứ hương, hiệp chung mà lại thành; vạn vật đều xinh đẹp kỳ diệu, mùi thơm xông khắp thập phương thế giới. Bồ tát các nơi ngửi đến mùi thơm ấy, thời đều tu hạnh của Phật. Nếu chẳng như thế, tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 33: Lúc tôi thành Phật, các loài chúng sanh trong vô lượng bất tư nghì thế giới ở mười phương, được quang minh của tôi chiếu đến thân tâm họ, thời thân tâm họ mềm dịu nghẹ nhàng hơn thiên nhơn, nếu chẳng như vậy, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 34: Lúc tôi thành Phật, các loài chúng sanh vô lượng bất tư nghì thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu của tôi mà không được vô sanh pháp nhẫn, cùng các môn thâm tổng trì, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 35: Lúc tôi thành Phật, các người nữ trong vô lượng bất tư nghì thế giới ở mười phương, vui mừng tin mến phát Bồ đề tâm, nhàm ghét thân gái. Nếu sau khi mạng chung mà còn làm thân người nữ nữa, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 36: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, vẫn thường tu phạm hạnh, mãi đến thành Phật. Nếu chẳng được như thế, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 37: Lúc tôi thành Phật, hàng nhơn thiên trong vô lượng bất tư nghì thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tin mến tu Bồ tát hạnh, thời chư thiên và người đời đều kính trọng người đó. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 38: Lúc tôi thành Phật, hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi muốn có y phục, thời y phục tốt đúng pháp liền theo tâm niệm của người đó mà đến trên thân. Nếu còn phải cắt may nhuộm giặt, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 39: Lúc tôi thành phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, hưởng thọ sự vui sướng không như vị Lậu tận Tỳ kheo, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Nguyện thứ 40: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới nghiêm tịnh của chư Phật ở mười phương, thời liền được thấy rõ cả nơi trong cây báu, đúng theo ý muốn, như thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 41: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó nhẫn đến lúc thành Phật, mà các căn còn thiếu xấu, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 42: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, thảy đều được thoát tam tuội. Trụ tam muội đó, trong khoảng thời gian một niệm, cúng dường vô lượng bất tư nghì chư Phật Thế Tôn, mà vẫn không mất chánh niệm. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 43: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung thác sanh nhà Tôn quí, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 44: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở, tu Bồ tát hạnh, tròn đủ công đức, nếu chẳng như thế thời tôi khoog ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 45: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, đều được Phổ đẳng tam muội, trụ tam muội này mãi đến lúc thành Phật, thường được thấy vô lượng bất tư nghì tất cả chư Phật. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 46: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở trong cõi nước tôi, muốn nghe pháp gì, thời liền tự nhiên đặng nghe pháp ấy. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 47: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát ở thế giới phương khác, nghe danh danh tôi mà chẳng được đến bực Bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

     Nguyện thứ 48: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệt tôi, mà chẳng liền được Đệ nhất âm hưởng nhẫn, ở nơi Phật pháp chẳng liền được bực Bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Tóm lại, lịch sử đức Phật A Di Đà, với 48 đại nguyện. Công đức của Phật A Di Đà rất rộng lớn, là do lòng đại bi đại nguyện lợi tha. Ngài đành bỏ tất cả ngôi sang cao quí, nguyện tu hành khi thành Phật, ở trên một cảnh giới huy hoàng trang nghiêm, để tiếp độ chúng sanh. Trải qua một thời gian được?? báo, chánh báo xuất hiện rực rỡ như lời Ngài đã thệ nguyện.

Phật tử chúng ta, từ hồi nào đến bây giờ, biết niệm danh hiệu Phật A Di Đà, biết được pháp môn niệm Phật cầu sanh Cực lạc ( Tịnh độ) là nhờ đức Phật Thích Ca ta chỉ dạy.

Vậy xin khuyên tất cả Phật tử, noi theo gương đại nguyện của Phật A Di Đà, nên phát tâm thệ nguyện rộng lớn, cầu khi lâm chung sanh về Cực lạc, hóa sanh từ hoa sen, tu chứng lên bực Bất thối, rồi trở lại cõi Ta bà hóa độ bà con quyến thuộc và tất cả chúng sanh tu hành, đồng hành Phật đạo.

Dự kiến tượng Phật ADIDA cao 48m - sẽ hoàn  thiện vào cuối năm 2016

 

HOẰNG PHÁP

 

 

In văn bản

Giỏ hàng
Chưa có sản phẩm nào trong giỏ hàng của bạn!
VIDEO

Công viên Nghĩa trang Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên 2016

 

Hỗ trợ Online
Tin mới
Tôn vinh lòng hiếu nghĩa - thư mời thăm quan công viên Thiên Đức

Hàng tuần Công ty Thiên Đức tổ chức thăm quan tại Công viên Sinh thái kết hợp du lịch tâm linh.

Hình ảnh Công viên tưởng niệm Thiên Đức tháng 7/2017

Nếu ai muốn có căn nhà - Ngàn thu vĩnh cửu thì ra nơi này

Thiên Đức - Nơi hội tụ nhiều nhất các công trình tâm linh tượng Phật, tượng la hán

Đừng quên tìm đến nghĩa trang Thiên Đức - Phú Thọ để thăm thú các tuyệt tác kiến trúc tâm linh tại đây. Gọi là nghĩa trang, nhưng nghĩa trang có cảnh quan thơ mộng với các công trình kiến trúc tuyệt đẹp.

Nghĩa trang từ thiện của Ông Mẫn

Chứng kiến nhiều người vô gia cư, người nghèo lang thang cơ nhỡ “sống không nhà, thác không mồ”, ông Nguyễn Duy Mẫn (67 tuổi, ngụ xã An Hảo, H.Tịnh Biên, An Giang) ray rứt khôn nguôi.