1
Bạn cần hỗ trợ?

Thế đất "Lưỡng Long Tranh Châu" Phần 3

Sau ba đêm liên tiếp, việc trấn áp mới hoàn thành, Thanh Lã tiên sinh liền đích thân đào viên đá đầu tiên, chôn một đạo bùa trấn trạch, mà không xảy ra một sự trở ngại gì như mấy buổi trước, mỗi khi phải dùng thuổng, cuốc đào xới khu cấm địa, thế nào cũng phải bị thổ thần trách phạt, hoặc quất ngã người đứng trông nom, hoặc sui khiến cho người gảy mai, mẻ cuốc, làm đình trệ công việc đến phải bãi bỏ, không dám động gì tới khu đất nữa !

Biết rõ khả năng của ông Tú Lê, nên tiên sinh luôn luôn nhắc nhở đến danh tánh bạn, những lúc có dịp hội họp bạn đồng môn thuở ấu thơ, hay gặp những kiểu đất kỳ hình, quái dị. Giữa giờ phút tuyệt vọng, ưu phiền, được gặp mặt cố nhân, Thanh Lã tiên sinh mừng rỡ như người cùng khốn nhất đời, mới bất ngờ bắt được một hủ vàng ròng quý giá, hoặc hơn thế, như một thầy khóa nghèo, được liên trúng tam nguyên, nhẹ bước thanh vân làm nở nang mày mặt, rở ràng mẹ cha.

Quả nhiên, tiên sinh đã không uổng công kỳ vọng vào người bạn tâm giao thuở trước, vì vừa được tiên sinh thuật lại những sự khó khăn mới gặp ở khu đất Hạc Hải, ông Tú Lê liền sốt sắng nhận lời. Ngay chiều hôm ấy : ông bảo bạn đưa đi coi địa hình địa thế vùng cấm địa, rồi chờ đến khuya, một mình lẳng lặng ra tận nơi, làm phép nhường tinh, hô thần, trấn yểm.

Sau ba đêm liên tiếp, việc trấn áp mới hoàn thành, Thanh Lã tiên sinh liền đích thân đào viên đá đầu tiên, chôn một đạo bùa trấn trạch, mà không xảy ra một sự trở ngại gì như mấy buổi trước, mỗi khi phải dùng thuổng, cuốc đào xới khu cấm địa, thế nào cũng phải bị thổ thần trách phạt, hoặc quất ngã người đứng trông nom, hoặc sui khiến cho người gảy mai, mẻ cuốc, làm đình trệ công việc đến phải bãi bỏ, không dám động gì tới khu đất nữa !


 


Nhưng sau khi bắt đầu xây cất từ đường, Thanh Lã tiên sinh lại phải đương đầu ráo riết với sự phá rối của của phe nhóm họ Trần.

Những người thù nghịch với tiên sinh đã thay đổi nhau làm đơn khiếu nại, yêu cầu quan Huyện hạ lệnh đình chỉ việc xây dựng phi pháp của tiên sinh, viện cớ khu cấm địa Hạc Hải, từ bao đời nay, vẫn được coi là địa điểm tối linh thiêng, bất khả xâm phạm, không cho một ai được quyền sử dụng để làm nhà hay trồng trọt, kể cả chủ nhân được chánh thức thừa kế thửa đất ấy !

Nếu cứ miễn cưỡng xây dựng, đào xới vùng cấm địa, là thế nào dân làng cũng bị khốn khổ về sự động trệ tai hại !

Tự biết mình làm điều ngang bướng vì quyền lợi riêng, không chịu tôn trọng tục lệ trong làng nên Thanh Lã tiên sinh bắt buộc phải xử sự nhún nhường, thân hành đến tận nhà các bô lão, hương chức trong dòng họ Trần, để yêu cầu họ vị tình bà con trong xóm ngoài làng khi tắt lửa, lúc tối đèn có nhau mà sẳn lòng làm ngơ cho tiên sinh được phép xây dựng ngôi nhà thờ chung cho cả họ.

Bề ngoài, họ Trần tuy nói cười vui vẻ, không tỏ ý bất bình, phản đối ra mặt, song họ vẫn ngấm ngầm vận động để ngăn cản công cuộc xây dựng từ đường.

Biết rõ thế lực của viên đề mục họ Phạm, họ đã dùng tiền bạc để hối lộ tên này, để nhờ y tìm cơ hội triệt hạ phe nhóm đối phương.

Thanh Lã tiên sinh nghe được tin ấy, sợ viên đề mục, tay sai thân tín của quan Huyện ám hại mình, cũng vội thu xếp lể vật tìm cách kết giao với họ Phạm.

Con cáo già họ Phạm được cơ hội bóc lột cả hai phe, không ngần ngại gì, tỏ ý thân thiện với cả đôi bên.

Với ai, y cũng khôn ngoan hứa hẹn, hết lòng săn sóc, bênh vực, để nuốt trôi những nén bạc bạc trắng hay những bu gà vịt, những thùng gạo rượu của hai họ đem đến "vi thiềng" !

Nhân dịp thầy địa lý Tàu ghé vào xem kiểu đất "lưỡng long tranh châu", tiên sinh liền cho mời luôn cả họ Phạm đến uống rượu. Bên mâm cơm thịnh soạn, ba người vui vẻ chuyện trò về đạo lý thánh hiền, và không ngớt lời ca tụng những nét tinh hoa, sâu sắc của nền văn hoa cổ kính Đông Phương để cuối cùng, cực lực suy tôn sự huyền bí cao siêu, uyên thâm, uẩn súc của các môn lý, số, phong thủy !

Nhân dịp này, thầy địa lý Tàu, khi đề cập đến các kiểu đất đế vương, có hỏi Thanh Lã tiên sinh :

- Tiên sinh thường lưu ý các ngôi đất quý, vậy kiểu đất ở Lam Sơn, nơi phát tích của Lê triều, hiện thời ra sao ? Theo ý tiên sinh, thì nơi ấy có những nét gì đặc sắc ?

Hơi men bốc cháy bừng bừng trong phế phủ, Thanh Lã tiên sinh vừa nâng chén lên môi, vừa cao hứng gật gù một cách vô cùng đắc ý :

- Kể ra cũng không có gì quý lắm, Cả khu Lam Sơn, chưa chắc đã ăn đứt được cái cổng nhà từ đường này đâu, nhị vị tiên sinh ạ !

Viên đề lại họ Phạm, trố mắt kinh ngạc nhìn sững Thanh Lã tiên sinh, trong lúc tiên sinh vô tình, cứ cao hứng nói cười như thường !

Và cũng từ đấy, y không còn nghĩ gì đến sự ăn uống nữa, mà chỉ chăm chú theo dõi từng lời nói, cử động của chủ nhân.

Sau tiệc rượu này, viên đề mục đi tìm mấy viên hương chức thù nghịch với Thanh lã tiên sinh, thuật lại cho họ nghe, những lời tiên sinh vừa thốt ra trong hơi men chuếnh choáng và hứa sẽ đem tố cáo hành vi phạm thượng đó với triều đình để làm tội Thanh Lã tiên sinh, nếu phe họ Trần chịu vui lòng bỏ ra ba trăm nén bạc.

Muốn cho những người trong họ Trần tin lời mình, họ Phạm đã thao thao bất tuyệt khoe khoang thế lực của ngòi bút một tay đề lại lão luyện, muốn thay đen, đổi trắng, khuấy nước nên hồ thế nào cũng được, miễn là án văn cấu phải tạo sao cho thiệt hợp tình hợp lý.

Hơn thế nữa, lại còn cần được lòng tin của quan trên.

Mà về điểm này, thì viên đề lại họ Phạm có thừa điều kiện, vì từ khi được bổ nhiệm về huyện này, quan Huyện đối với hắn, luôn tỏ lòng tín nhiệm, ủy thác cho hắn nhiều án từ, công việc quan trọng.

Muốn mua chuộc lòng yêu mến, thương tưởng của quan Huyện, họ Phạm đã khôn khéo, bày mưu tính kế cho quan Huyện đục khoét lương dân, khiến cho mới có mấy năm trời mà quan Huyện đã tậu được trên một trăm mẫu ruộng ở quê nhà.

Nghe họ Phạm nói rõ âm mưu ám hại Thanh Lã tiên sinh, họ Trần hân hoan tiếp nhận tin đó, và không ngần ngại gì, chấp thuận toàn vẹn đề nghị của viên đề lại.

Họ về hội họp ngay các bô lão, chức sắc trong họ rồi trịnh trọng thuật lại rõ ràng lời nói, bao hàm ý nghĩa phản nghịch của Thanh Lã tiên sinh do viên đề lại họ Phạm nghe được và sẳn lòng tố cáo nội vụ với quan trên, nếu được họ Trần đền ơn xứng đáng. Kết luận, người trưởng tộc yêu cầu tất cả mọi người trong họ, không phân biệt già trẻ, gái trai tính theo đầu người, cứ mỗi xuất phải nộp một lượng bạc, mới có thể chu tất được món tiền mà viên đề lại đã yêu sách.

Theo lời trình bày của người trưởng tộc, thì đó là một cơ hội may mắn phi thường, để họ Trần triệt hạ hạ đối phương bằng một miếng đòn quyết liệt, không còn hy vọng gì để ngốc đầu lên được, vì trong thời đại phong kiến cực thịnh, kẻ khinh mạn triều đình, xúc phạm đến uy thế hoàng gia, sẽ bị trảm quyết, bêu thủ cấp làm gương cho thiên hạ !
Đấy là trường hợp khoang hồng đối với những tội nhân không có đầy đủ bằng chứng, tang vật phản nghịch.

Còn có những vụ án tương tự, mà nạn nhân lại có thể bị xử tới tru di tam tộc, hay hành hình một số chính phạm, và lưu đày những thân nhân, họ hàng giây mơ, rễ má !

Trong dòng họ Thanh Lã, vẫn hay rằng có nhiều hương lý, chức sắc, lắm kỳ mưu, diệu kế, có uy danh, tín nhiệm với dân làng, nhưng tựu trung vẫn không được ai tài giỏi như Thanh Lã tiên sinh, nên họ chỉ nhắm riêng mục đích : triệt hạ một mình tiên sinh, cũng đủ khiến cho cả dòng họ tiên sinh phải suy sụp.

Viện trưởng tộc còn nhấn mạnh : nếu bây giờ không triệt hạ được tiên sinh, tức là ngôi từ đường ở khu Hạc Hải vẫn còn, thì chỉ trong vài ba năm nữa, long mạch nổi dậy, cả dòng họ ấy sẽ được hưởng thụ sự kết phát vẻ vang, quan văn, quan võ khắp triều đình, hỏi lúc đó, họ Trần chỉ cầu được sống yên ổn trong xóm làng cũng còn khó, chứ hy vọng gì cạnh tranh với họ và được dân làng kính nễ nữa !

Mình có cơ hội diệt trừ họ mà không biết lợi dụng tức khắc, thì sau này, khi họ có nhiều người làm quan, họ Trần đành chỉ còn có nước làm đầy tớ họ, để đổi lấy sự an cư lạc nghiệp mà thôi. Viên trưởng tộc đã khéo dùng chính sách "thỉnh tướng không bằng khích tướng" để gợi lòng tự ái của mọi người trong họ, khiến cho tất cả nam phụ lão ấu đều nhiệt liệt tán thành âm mưu tố cáo ông Thanh Lã, và sốt sắng đóng góp ngay số tiền viên trưởng tộc vừa đề nghị.

Chỉ một ngày sau, họ Trần đã thâu được đủ ba trăm lượng bạc của bà con trong họ, để ngay chiều hôm ấy, bí mật đem đến nộp cho viên đề lại và không quên nhắc đi nhắc lại điều kiện thiết yếu : nếu không diệt trừ được ông Thanh Lã, nếu không phá hủy được ngôi từ đường, thì viên đề lại phải trả lại họ Trần đủ số tiền đã lấy !...

Giấy tờ cam kết xong xuôi, mấy ông hương lý, thân hào trong họ Trần hý hửng ra về, ngày nào cũng tụ họp chè chén với nhau, để chờ nghe tin tức.

NHỮNG HIỆN TƯỢNG QUÁI DỊ TRONG HOÀNG CUNG

Đúng vào thời kỳ ấy, tại hoàng cung liên tiếp xãy ra mấy hiện tượng quái dị: luôn 3 đêm ngày liên tiếp, thanh thượng phương bảo kiếm của nhà Vua, treo gần long sàng, bỗng phát ra những tiếng vo vo đều đều như tiếng gió xào xạc trong một cơn mưa rả rích.

Đồng thời, chiếc đỉnh cao bằng đầu người nặng tới mấy ngàn cân, đặt trước điện Thái Hoà, cũng đột nhiên bị đổ nghiêng hẳn về phía trước, mặc dầu nơi ấy, suốt ngày đêm không có ai tới, và luôn luôn có võ lâm quân canh gác cực kỳ nghiêm mật. Mà lúc chiếc đỉnh đổ nghiêng, cũng không gây ra một tiếng động nhỏ nào.

Vị lão quan thẩn thở, bước xuống lầu, vào thư phòng ngồi thẩn thờ suy nghĩ trước án thư, đoạn dơ đốt ngón tay tính toán một lúc lâu, bất giác giật mình kinh hãi lẩm bẩm :

- Vận mạng hoàng triều có cơ suy giảm đến nơi mất rồi, nếu linh khí đất kinh kỳ không sớm phục hồi, cho hùng hậu như khí phát tích, thì khí thiêng ở phương Bắc sẽ có ngày quật khởi, lấn át được cả long mạch hoàng thành... Ngai vàng nhà Lê chắc khó lòng giữ vững.

Ngày hôm sau, quan Khâm Thiên Giám dâng sớ tâu rõ những hiện tượng quái dị đêm trước và kết luận :

Ở phương Bắc chắc có huyệt đế vương, khí thiêng đang thời kết phát, nên bắt đầu làm thương tổn tới nền tảng vững chắc của Hoàng cung. Nếu không sớm tìm cách diệt trừ, sớm muộn gì, cũng sẽ gây ảnh hưỡng không tốt cho vận mạng hoàng triều và non sông, xã tắc.

Nhà vua xem sớ tấu, bàng hoàng lo sợ, vội giáng mật chiếu cho các quan Tổng Trấn đại thần các nơi, phải lưu tâm dò xét xem chổ nào có long mạch đế vương thì một mặt phải tâu ngay cho nhà vua biết, một mặt phải tìm thầy địa lý cao tay trấn yểm cho kỳ được. Hạn trong ba tháng phải báo cáo tình hình cho triều đình biết.

Mật chiếu được sứ giả dùng hỏa bài đem ngay đến các biên trấn xa xôi, khi tới tỉnh Bắc Giang thì vừa đúng lúc viên đề lại họ Phạm đang bày mưu tính kế ám hại Thanh Lã tiên sinh, sau khi tiên sinh chót thốt mấy lời kém suy nghĩ giữa lúc bị ma men ám ảnh.

Được quan Huyện cho gọi vào, nói rõ lời nhà Vua truyền dạy trong mật chỉ, viên đề lại cả mừng, vội về làm báo cáo tố giác khu cấm địa Hạc Hải, và ý nghĩa biểu lộ sự phản nghịch trong những lời thốt ra trong lúc vô tình của Thanh Lã tiên sinh, tại bửa rượu có cả thầy địa lý Trung Hoa cùng dự.

Trong bản báo cáo này, họ Phạm đã tỷ mỷ tường thuật rõ ràng vị trí của khu đất cấm Hạc Hải.

Đồng thời, còn trình bày luôn cả tục lệ từ ngàn xưa, với những sự linh ứng dị kỳ ấy, mỗi khi có người nào ở trong làng, không chịu tuân theo lệnh cấm của hương chức, cứ làm nhà hay trồng trọt, canh tác trên thửa đất Hạc Hải.

Để có đủ yếu tố buộc tội Thanh Lã tiên sinh, viên đề lại gian ác này, còn nhấn mạnh đến mưu tính của tiên sinh lúc mua khu cấm địa mà muốn đạt thành ý nguyện, tiên sinh đã lợi dụng uy quyền, thế lực của một dòng họ có nhiều người vào bậc đàn anh, chức sắc, ăn trên, ngồi trước, để bắt buộc dân làng phải im hơi, lặng tiếng, không cho một ai phản đối chi hết, mặc dầu họ biết dân làng sẽ bị động trệ ?


(Các kiểu đất: Thắt cuống cà sa đít nhện - Hay - Thắt cổ bồng phồng ra huyệt) 


Họ Phạm lại gian xảo, đính kèm theo bản văn tố giác của y, những bản sao các đơn từ của bọn chức sắc, hương lý trong phe nhóm họ Trần, trước đây đã đệ trình quan sở tại để phản đối sự xây dựng từ đường của Thanh Lã tiên sinh.

Bằng một giọng văn kết tội rất chặt chẻ của một viên lại mục chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghề điên đảo án từ, dệt thêu bịa đặt một cách rất khéo léo, có mạch lạc, tạo được một niềm tin tưởng vững chắc cho các quan tỉnh khi thẩm xét nội vụ, viên đề lại họ Phạm còn thâm độc, tường thuật luôn cả trong bản báo cáo, sự vận động và lợi dụng quyền lực uy thế của một dòng họ, vốn từ mấy đời nay, vẫn được liệt vào hàng cường hào, ăn trên ngồi chốc ở trong làng để buộc tội thêm cho ông Thanh Lã là cố tình chiếm đoạt cho kỳ được khu cấm địa với tất cả mọi giá, chỉ cốt sao xây dựng được ngôi từ đường, mưu cầu sự kết phát hiển vinh cho cả họ. Để kết luận, viên đề lại còn cam đoan, lấy tính mạng ra bảo đảm cho sự tố cáo của mình, để nếu có điều gì không đúng, y xin sẳn lòng chịu tội với triều đình.

BẢO TOÀN SĨ KHÍ, ÔNG THANH LÃ BỊ ĐỔ CHÌ VÀO MẮT

Quan Tổng Trấn nhận bản văn tường trình của quan Huyện, có đính kèm tờ cung khai rất rõ ràng, tỷ mỷ của viên đề lại họ Phạm, không dám chậm trễ, vội một mặt đệ biểu chương về triều tấu các sự việc xãy ra ở mấy vùng Mông Phụ, Mông Sàng, căn cứ theo lời dân cư địa phương tiết lộ, một mặt sai quân lính về làng Mía, bắt Thanh Lã tiên sinh.
Đất bằng nổi sóng, Thanh Lã tiên sinh không ngờ mối tai hoạ tày đình, đang dồn dập cả ở sau lưng mình, ngay từ sau bửa rượu thịnh soạn mà tiên sinh vẫn yên trí đó là cơ hội hãn hữu để gặp mặt bạn hiền, làm cho cả dòng họ tiên sinh bị tan tành, điêu đứng.

Với tâm hồn bộc trực, sảng khoái của một vị chính nho, quân tử, lúc nào cũng coi đạo lý thánh hiền như khuôn vàng, thước ngọc, lấy tình trung hậu, tín nghỉa làm phương châm chánh yếu trong sự giao du, thù tạc, sẳn sàng đặt lòng tin tưởng vào bất cứ ai ở quanh mình, nếu đã có cơ hội được tiếp xúc với họ, mặc dầu dĩ vãng của họ, thường bị mọi người chỉ trích chê bai.

Tiên sinh luôn luôn chủ trương : dùng cảm tình, ân nghĩa để cảm hóa những kẻ lạc lối, lầm đường, lúc nào cũng chỉ mong bớt thù thêm bạn để tâm hồn được thảnh thơi, tâm trí được hoàn toàn rãnh rỗi.

Cũng vì thế, tiên sinh mới không ngần ngại gì, kết giao mật thiết với viên đề lại họ Phạm mà tiên sinh biết rõ tâm tính gian xảo cố hửu của kẻ lại mục và sẳn lòng cởi mở ruột gan, lúc tiên sinh ngồi tiếp chuyện hắn với thầy địa lý Tàu hôm trước.

Thực tình mà nói, thì những lời cao đàm hứng luận thốt ra trong lúc phế phủ đang ngùn ngụt hơi men, tiên sinh đều quên hết sau một giấc ngủ ly bì, mỏi mệt, đến nổi bạn về bao giờ tiên sinh cũng không rõ !

Cho mãi đến cuối giờ Mảo hôm sau, khi thấy tiên sinh cựa mình ngồi choàng dậy, một người em họ của tiên sinh, đứng hầu rượu chiều hôm trước, vội đi lấy nước cho tiên sinh rửa mặt, pha trà cho tiên sinh uống như thường lệ, rồi mới thong thả thuật lại những lời nói của tiên sinh trong bửa rượu, cùng thái độ kiêu ngạo, rất khả nghi của viên đề lại !

Thanh Lã tiên sinh lúc ấy mới giật mình, sợ hải, toát mồ hôi khi nghĩ tới hình phạt khắc nghiệt của chế độ phong kiến, mà mỗi hành vi, cử động hay ngôn ngữ, văn tự, chỉ hơi có vẻ ngông cuồng, cũng có thể bị bọn vua quan kết án là "khi quân" để làm tội đương sự rất nặng nề, tuỳ theo từng trường hợp : hoặc tử hình hay tru di tam tộc !

Chợt nhớ đến tâm tính xảo quyệt thâm độc của bọn sai nha, nhất là thành tích " ăn thịt người không biết tanh " của viên đề lại họ Phạm, tiên sinh lại càng hoảng sợ, vò đầu, bứt tai, không biết lo nghĩ mưu kế gì, để có thể tránh được tai hoạ sắp xảy ra ?

Nhưng rồi tiên sinh lại tự nhủ thầm : mình quen ăn ngay nói thẳng, không làm điều gì phản dân hại nước, thì có lý nào triều đình lại nỡ kết tội oan uổng, chỉ căn cứ vào những lời nói vu vơ, thốt ra trong lúc vô tình, say sưa, chè chén ?

Thiên hạ chẳng đã có câu : " cây ngay không lo chết đứng " đấy ư ?

Vả lại, con người ta sống chết có số mạng !

Không một ai tránh khỏi được sự an bài của Tạo Hóa.

Nghĩ tới đây, tiên sinh vội vào thẳng thư phòng, lục trong chiếc tráp sơn đen, lấy ra lá số tử vi của tiên sinh, rồi chăm chú nghiền ngẩm cứu xét...

Bỗng tiên sinh tái mặt, mồ hôi toát ra khắp mình, toàn thân lạnh buốt như băng giá, suýt kêu lên một tiếng hải hùng, khi thấy trong cung Mệnh của lá số có ghi rõ những vận hạn kinh khủng, nếu không đưa đến thảm hoạ chết người thì cũng làm cho tiên sinh bị tàn phế trọn đời, cặp sao Thái Dương và Thái Âm tượng trưng đôi mắt của tiên sinh trong lá số gặp sát tinh hội chiếu.

Tiên sinh buông lá số, thẩn thờ một lúc lâu, rồi thở dài nảo nuột :

Muôn sự đều do số mệnh ! Chỉ tiếc cho công phu tìm kiếm đất quý trong mấy năm trời gian nan vất vả khổ trí, lao tâm mà rút cuộc lại vận chỉ là cảnh dã tràng xe cát, bao nhiêu công phu kỳ diệu phút chốc biến thành ảo ảnh !

Sức người cưỡng sao nổi Mệnh Trời !

Đến từ giờ phút này, tiên sinh mới cảm thấy sự tai hại của tánh ngông cuồng, tự đắc, vì ngay từ khi khám phá được khu cấm địa Hạc hải, hiểu được rõ ràng địa điểm quy tụ linh khí kỳ tú, khả dĩ đem lại sự kết phát tới Vương bá, Công hầu, nhưng xét lại âm công, phước trạch nhà nình, tiên sinh tự biết âm đức quá mỏng manh, không xứng đáng thụ hưởng sự kết phát lớn lao hiển hách ấy !

Tuy nhiên, với tính tự ái của một sĩ phu làu thông lý số, quán triệt âm dương, tiên sinh chắc rằng mình sẽ có đủ tài sức chế ngự mạng số, để hoàn thành chí nguyện.

Do đấy, tiên sinh mới cố gắng tìm đủ mọi phương pháp huyền diệu, kỳ ảo để trấn yểm khu Hạc Hải, chế ngự đuợc Thổ thần, xây dựng được chu đáo ngôi nhà thờ họ.

Chín phần mười đoạn đường đầy chông gai, trở ngại, tiên sinh đã dùng tài năng sở trường vượt qua được gần hết, chỉ còn có một quảng ngắn nữa là có thể đạt được hoàn toàn mục đích mong muốn, từ khi tiên sinh bắt đầu nghiên cứu môn địa lý !

Nào ngờ đâu chỉ vì mấy lời vô ý thức, thốt ra trong lúc mềm môi vui chén với bạn bè, mà kẻ gian ác đã căn cứ vào đây, hãm hại tiên sinh, khiến cho công trình xây dựng của tiên sinh, phút chốc suy sụp, đổ vỡ !

Càng nghĩ, càng buồn, càng giận tiên sinh lại càng chán ngán, nhiều lúc muốn tự kết liểu đời mình cho rảnh nợ, nhưng, rồi tiên sinh lại bác bỏ ngay ý định nông nổi ấy khi tự nghĩ rằng mình là người vô tội, triều đình không thể viện vào cớ gì, để hãm hại tiên sinh cho được ?

Nghĩ thế rồi, tiên sinh thản nhiên đợi chờ những sóng gió sắp xãy ra...

Một buổi chiều mưa đông năm Ất Vỵ, nhằm đời vua Lê Cảnh Hưng, quan trấn tỉnh Bắc Giang phái một viên Cai Cơ, đem một toán lính về tận làng Mía, nã tróc Thanh Lã tiên sinh, giải về triều cho Tam Pháp Tỵ thẩm vấn về tội mưu toan phản nghịch nhà Vua.

Tuy đã tiên đoán hậu quả này, khi thấy lính về nã tróc, thân nhân của tiên sinh cũng hoảng sợ, cuống cuồng. Người nào cũng run rẫy, bàng hoàng, chỉ lo bị vạ gió, tay bay, vướng phải họa lây với Thanh Lã tiên sinh.

Thừa dịp viên sai quan đang mải mê lục soát trong các căn phòng, để đi tìm kiếm tang vật phản loạn, tiên sinh liền căn dặn thân nhân :

- Hôm nay ta phải theo sai quan lên tỉnh, nhằm đúng ngày 23 tháng tám, thì bổn mạng của ta, không lo bị thương tổn, mặc dầu ta vẫn vướng phải cực hình : bị mù cả hai mắt !

Ta đã tính toán kỹ lưỡng từ hôm qua rồi !

Nếu sai quan tới tróc nã ta vào ngày mai, thì nhất định, thế nào ta cũng bị trảm quyết, mà mọi người trong họ sẽ cũng phải lưu đày.

Nhưng hôm nay ta đã bị bắt, thì không còn gì lo tới tính mạng nữa.

Vậy đúng ngày 28 tháng mười tới, người nhà phải chờ đón ta ở cỗng tòa Tam Pháp để dắt ta về quê, vì chắc là đến hôm ấy, ta không còn trông thấy ánh sáng mặt trời nữa. Mọi người phải nhớ lời ta dặn, chớ để cho ta bơ vơ ở nơi đất khách, quê người nhé !

Quan trấn không tra hỏi tỷ mỷ phạm nhân, mà chỉ làm báo cáo giải theo với phạm nhân về kinh sư, để tuỳ triều đình xét xử.

Trước tòa Tam Pháp, khi bị cật vấn về mưu toan phản nghịch qua lời nói khinh mạn Hoàng triều trong tiệc rượu, và tính cách thiêng liêng của khu cấm địa Hạc hải, Thanh Lã tiên sinh đã khẳng khái khai rằng :

- Trước khi có ý định tìm một ngôi đất quý, để hoặc an táng hài cốt ông cha, hoặc xây dựng nhà cửa, khả dỉ đem lại được sự kết phát, vinh hiiển cho con cháu trong họ sau này, tiểu dân đã khảo xét tinh tường, nghiên cứu lý số, đoán biết chắc chắn vận mạng Hoàng triều không còn được lâu dài nửa, ngôi bảo tổ vì vậy, nhất định sẽ phải qua tay họ khác.

Tiểu dân thấy thế, mới dám có tham vọng dùng sức học sở trường để : một là thử xem học vấn của mình có quả thực đã đạt được tới mức uyên bác, tinh thông chưa, hay đó chỉ là những sự hiểu biết hời hợt trên giấy trắng, mực đen, không hơn gì cái học từ chương, phù phiếm; hai là muốn gây dựng cho con cháu có cơ hội mở mày, mờ mặt, được với thiên hạ, mặc dầu tiểu dân tự biết phước trạch tổ tiên nhà tiểu dân chưa đủ cho con cháu hưởng thụ sự kết phát quá hiển hách vẻ vang !

Nay quả nhiên, sự mưu tính của tiểu dân bị sụp đổ, đúng như vận mạng tiểu dân đã tiên đoán, vì tuy tiểu dân thành công trong việc xây dựng từ đường trên khu Hạc Hải, song vì một lời nói thốt ra trong lúc cao hứng, vô tình tiểu dân bị mắc tội với triều đình, nhà thờ họ bị triệt hạ, tương lai tiểu dân hoàn toàn tan vở, thì tiểu dân quả thực không còn mong gì sống ở trên đời nữa ?

Vậy giết, tha thế nào, xin tuỳ lượng cao minh của thương quan định đoạt. Riêng về phần tiểu dân, ngay từ lúc theo sai quan lên tỉnh, tiểu dân đã coi như được về... với tổ tiên rồi, không còn hy vọng gì được trở lại vui sống cùng gia đình nữa !

Quan Đô sát còn tra hỏi thêm về các chi tiết liên quan đến ngôi đất "luỡng long tranh châu", bắt nhà phong thủy phải tự viết một bản cung khai, trình bày rành mạch tất cả những công việc đã làm, từ khi mới khám phá được khu cấm địa, như cách dùng bùa phép trấn yểm tà khí, để giữ vững long mạch như thế nào, phương pháp vận động cho dân làng không phản đối sự xây dựng từ đường, như thế nào, tính cách linh thiên và những hiện tượng quái dị quanh khu đất Hạc hải từ ngày xưa như thế nào, nhất nhất đều phải ghi chép rất rõ ràng, để các quan trong tòa Tam pháp cứu xét.

Riêng về lời nói của tiên sinh, thốt ra trong bửa rượu với nhà phong thủy Trung Hoa và viên đề lại, tiên sinh cũng không dấu diếm, khai thực đó là do câu hỏi của thầy địa lý Tàu, muốn so sánh kiểu đất phát tích của Hoàng triều, với khu Hạc hải, xem nơi nào quý địa hơn !

Tính nết tiên sinh, bình sinh rất thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có hay nói hay, có dở nói dở, không bao giờ chịu làm một điều gì mờ ám, nên tiên sinh mới trả lời nhà phong thủy Trung Hoa một câu phát xuất tự đáy lòng, mà sự thực, nếu không xảy ra tai biến này chắc chắn sẽ được chứng minh một cách rất rõ ràng, sau thời gian ngôi từ đường của dòng họ tiên sinh bắt đầu quán khí !

Thấy phạm nhân đã khai khẩu cung rất đầy đủ, quan Đô Sát liền làm biểu văn phúc tấu triều đình, để xin nhà vua định tội.

Nhà Vua hạ chỉ : truyền quan Đô Sát phải áp giải phạm nhân vào triều rồi đương diện, dụ ông Thanh Lã, bắt tiên sinh phải tìm cách tiếp phúc kỳ được cho ngôi tổ mộ của nhà Lê ở đất Lam Sơn cho được hưng thịnh như trước.

Nếu việc làm này có kết quả, triều đình sẽ tha tội cho phạm nhân.

Thanh Lã tiên sinh không chút lưỡng lự, lạy giập đầu trước bệ ngọc mà tâu rằng :

- Kẻ tội phạm này nhất sanh trung thực, nghĩ sao nói vậy, không bao giờ quen đưa đón, phụng thừa, dù biết đó có thể làm nghịch ý Thánh Hoàng, để tự tìm lấy cái chết !

Vậy thần xin tâu thực : hạ thần đã khảo sát tinh tượng, tính toán âm dương, rất kỷ lưởng, nên mới dám có ảo mộng ngông cuồng, để đến nổi đắc tội với triều đình !

Nay công việc của hạ thần tuy không thành đạt, song chỉ trong một thời gian ngắn nữa, cũng sẽ có họ khác xuất đầu lộ diện để tranh dành ngôi bảo tổ !

Đó là thiên cơ đã ấn định, sức người dẫu mạnh đến đâu, cũng đành khoanh tay cam chịu !

Hạ thần đã một lần, cưỡng lại mênh Trời, nên giờ đây mới bị vướng tai ương.

Vậy cúi xin bệ hạ minh xét, kẻ tội phạm này cam lòng chịu chết chứ không dám tuân thánh chỉ, vì tự biết sức mình không sao thắng được thiên mạng !

Nhà vua nổi lôi đình thịnh nộ, cho là ông Thanh Lã cố tình ngang bướng, không chịu tìm cách tiếp phúc cho ngôi tổ mộ của nhà Lê ở đất Lam Sơn, liền hạ chỉ cho tạm giam phạm nhân vào ngục tối.

Sau bao lần dụ dổ không có kết quả, đúng ngày hai mươi tám tháng mười, nhà vua liền hạ chỉ cho Hình Bộ Thị Lang phải làm tội ông Thanh Lã !

Bị giải từ ngục thất ra pháp trường, Thanh Lã tiên sinh tự biết số phận mình nên thần sắc chẳng chút biến chuyển ung dung theo võ lâm quân, ra quỳ trước án thư quan Hình Bộ.

Viên Thị Lang đọc thánh chỉ kết phạm nhân vào tội phản ngịch triều đình, phải bị đổ chì vào cả hai mắt, để trọn đời không còn tìm được kiểu đất đế vương nào khác nữa.

Ông Thanh Lã còn đang đảo mắt nhìn quanh để tìm thân nhân, thì một tên võ lâm quan đã đè nghiến tiên sinh xuống cho một tên lính khác đổ bát chì nấu sôi; bốc khói rùng rợn vào hai mắt ...

Tiếng kêu rú thất thanh, hoà với giọng nức nở, nghẹn ngào của thân nhân tiên sinh đứng quanh đây, đã tạo thành một âm thanh ai oán, bi thiết, não nùng vô bờ bến !

Tai họa bất ngờ này, quả đã phù hợp với lời tiên đoán của tiên sinh, khi táng giúp tám ngôi tổ mộ cho họ Nguyễn ở làng Báo Văn mà bằng cớ, còn được ghi lại rõ ràng trên bia đá, tìm được dưới lòng huyệt của kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư 

 

MÁU CHẢY CHAN HÒA KHU HẠC HẢI

Ngay sau khi phái công sai về tróc nã Thanh Lã tiên sinh, quan Trấn đã ủy nhiệm cho viên tri huyện sở tại, phải niêm phong ngôi từ đường xây dựng trên khu cấm địa ở làng Mía, để chờ lệnh quyết định của triều đình.

Sau mấy tháng thẩm vấn, cứu xét vụ án rất kỷ lưỡng, triều đình đã cho áp giải phạm nhân trở về nguyên quán, để chứng kiến cho quân lính phá hủy ngôi nhà thờ họ, mà trước đây không lâu, cũng chính phạm nhân này đã lao tâm khổ tứ, tận dụng khả năng chuyên môn và sức học vấn uyên thâm, để cố tạo nên một kỳ công vĩ đại cho con cháu trong họ được thụ hưởng lâu dài.

Trước khi tự tay đặt nhát cuốc thứ nhất trên nền nhà, ông Thanh Lã đã thiết lập bàn thờ, khấn vái thổ thần phù chú và đốt lỉ6n tiếp ba đạo bùa để xin giải sự trấn yểm lúc trước.

Sau đấy quân lính mới ùa vào gở mái chặt cột, phá móng đào nền...

Nhà phong thủy thẩn thờ, ngây dại đứng nhìn công trình xây dựng của mình với bao mồ hôi, nước mắt, phút chốc bị đổ vở tan tành.

Còn đang bơ phờ, ngao ngán, thầy địa lý chợt rùng mình, toàn thân như bị một luồng gió độc luồn qua kẻ phổi, khe gan, rồi sấm sét bỗng nổi dậy vang rền, mặc dầu trước đấy, trời rất quang đảng, mây xanh từng đám, nhẹ nhàng chuyển vận theo làn gió cuối thu mát mẻ, dịu dàng, không có một triệu chứng nào báo hiệu một cơn mưa gió phủ phàng !

Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, lúc đám lính huyện đang hò hét phá hủy ngôi từ đường trên vùng cấm địa, trời đất bỗng chuyển động ầm ầm, từng luồng chớp xanh lè, nối tiếp nhau hiện lên cùng một lượt với những tiếng gầm thét kinh thiên động địa của lôi thần, rồi mưa tuôn xối xả, gió giật đùng đùng làm tung bay cả những tàu lá cọ, vừa được giở từ trên mái nhà xuống !

Trận mưa tầm tả, như những tỉnh nước khổng lồ bị trút ngược xuống trần gian, kéo dài từ đầu giờ Tỵ đến cuối giờ Mùi mới ngớt hạt, khiến cho những nứa lá bị gỡ, trôi mất hết, kiểm soát lại, thì ngôi nhà thờ năm gian chỉ còn trơ lại mấy cây cột cái, với một mớ đòn tay !

Cả khu Hạc hải đều bị ngập nước mưa sâu tới quá gối !

Đó là một trường hợp lạ lùng, không hề thấy xãy ra lần nào ở mấy làng Báo Văn, Mông Sàng, Mông Phụ, từ trước tới nay, vì thường nhật, những năm trời làm lụt lội không kể, cả mấy thôn xã trong vùng, chưa từng bị lụt nước mưa bao giờ !

Mọi khi , dù mưa to gió lớn, đến đâu, kể cả những trận mưa giầm rã rích liên tiếp nhiều đêm ngày ròng rã, hay trong suốt tháng Ngâu, (tháng bảy), nước mưa, nếu không thấm được hết vào lòng đất, thì cũng trôi xuống các cống rãnh, rồi chảy tuốt qua những hồ ao rải rác ở khắp các thôn xóm, chư có đâu bị ứ động lại một cách kỳ dị nhu trận mưa hôm lính phá nhà thờ của ông Thanh Lã ?

Ngay chiều hôm ấy, khi công việc phá hủy từ đường hoàn tất, nhà phong thủy lại phải theo lính về trại giam trên Huyện, để sáng hôm sau, lai kinh chịu tội.

Nước mưa vẫn ứ đọng khắp khu Hạc hải vừa đúng bảy ngày bảy đêm mới cạn hết.

Nhưng trên mặt đất, từ đấy lại luôn luôn rỉ ra một chất nước đỏ sẩm như máu tươi.

Mà lạ lùng hơn nữa, hiện tượng quái dị ấy, lại chỉ thu hẹp trong phạm vi nền nhà vừa mới bị phá hủy, chứ chung quanh đấy, chẳng nơi nào giống thế cả !

Mấy bà già thấy vậy, hoảng sợ, vội lấy tro đổ lên, song vô ích; thứ nước đỏ, phảng phất có mùi tanh in hệt chất máu tươi, vẫn cứ ngày đêm rỉ ra, đều đều, không khác gì mồ hôi tiết qua lổ chân lông của một người đang đi dưới bầu trời nắng gắt !

Những ông già, bà cả trong làng cho rằng long mạch kiểu đất lưỡng long tranh châu đã bị đứt, nên mới có điềm kỳ dị ấy.

Nào đã hết đâu !

Cây đa bảy rễ ở đầu xóm Thượng, một nơi nổi tiếng linh thiêng trong vùng, từ bao nhiêu năm trời nay từng được dân làng đặt nhiều bình nhang ở các hốc cây và treo các thứ hài, nón trên cành, bỗng dưng bị khô héo dần, rồi chết rũ, cùng một lúc với hai cây ngọc lan trồng ở sân đình.

Quái gở hơn nữa, là sau đấy chừng mười hôm, giữa thân cây đa cổ thụ tự nhiên lại có một đôi rắn dài chừng năm thước ta, lớn bằng bắp vế, một con màu đỏ, một con màu xanh, nàm cuộn tròn trong hốc cây, đầu luôn luôn hướng thẳng về phía đình làng, chốc chốc lại rít lên từng hồi như tiếng còi lãnh lót, cực kỳ rùng rợn, khiến nhiều người yếu bóng vía không còn dám đi qua con đường ấy nữa.

Cũng từ hôm phá ngôi từ đường, đêm đêm, cứ giờ Tí trở đi, một số dân cư trong làng, đi kéo vó hay đi đơm cá, thường được thấy giữa khu Hạc Hải, hiện lên một vùng ánh sáng xanh rờn, lớn bằng quả cam, múa lôn, bay lượn chung quanh vùng cấm địa, rồi trong khoảnh khắc, tan vở thành ngàn vạn mảnh vụn, vàng tím đủ màu, bắn tóe ra khắp bốn phía giống hệt những tia sáng như hoa cà, hoa cải, như khi người ta đốt cây pháo bông vậy !

Đồng thời, từ giữa lòng đất lại văng vẳng phát ra những tiếng nức nở, nghẹn ngào, rên la rền rĩ như quỹ khóc ma kêu, khi rõ ràng như trước mặt, khi mơ hồ như ở cõi xa xăm, hòa cùng tiếng giun rế, nỉ non, gió đêm xào xạc tạo thành một điệu nhạc quái đản, rùng rợn, làm ớn xương sống những chàng thanh niên ngỗ nghịch nhất trong làng !

Nạn trôm cướp xãy ra như cơm bữa, hết ở xóm này, lại qua xóm khác, khiến cho mọi người, nhất là những gia đình có máu mặt, ăn ngũ không yên, vì từ bao đời nay, có ai bị mất trộm, mất cướp bao giờ đâu.

Tuy không được hưởng cuộc sống thanh bình như thời Nghiêu Thuấn : ban đêm nhà không phải đóng cửa, ban ngày chẳng ai thèm nhặt của rơi, nhưng dân cư người nào cũng biết an phận làm ăn, chẳng ai có tính tham lam gian trá ?

Vậy mà những thuần phong, mỹ tục ấy, phút chốc biến đâu mất hết, để nhường chỗ cho bọn trộm cướp hoành hành, làm mưa, làm gió !

Thế rồi, cứ đúng bảy hôm, lại xãy ra một vụ hỏa hoạn, mặc dù các hương lý, kỳ hào sau khi thấy mấy vụ cháy liên tiếp, đã phải chia phiên nhau, đích thân hướng dẫn tuần đinh, đi canh gác khắp các hang cùng, ngõ hẽm ở trong làng, để thấy ai hay lơ là, cẩu thả không chịu giữ gìn củi lửa, là cảnh cáo hay phạt vạ ngay tức khắc !

Nhưng tất cả mọi sự đề phòng cẩn mật của các chức dịch hương lý, cũng đều hóa ra vô ích, khi các vụ hỏa hoạn cứ đúng bảy ngày một lần, diễn ra rất đều đặn, như có bàn tay vô hình nào đó, sẳn sàng chờ đến hạn kỳ, là châm lửa đốt nhà tức khắc.

Có điều nạn nhân hỏa hoạn, hết thảy đều là những người khá giả, giàu có ở trong dòng họ nhà ông Thanh Lã, chứ dân cư họ Trần hay các họ nhỏ khác, đều không có nhà nào bị cháy hết !

Tình trạng bi đát, hổn loạn ấy, kéo dài vừa đúng ba tháng mười ngày, tính từ hôm bắt đầu triệt hạ ngôi từ đường kiến tạo trên khu Hạc Hải, thì bỗng nhiên đôi rắn có màu im bặt tiếng rít thường lệ, khiến dân làng nghi ngờ, tó mò rũ nhau đến gần xem xét.

Trước họ còn đứng xa nhìn ngắm, sau thấy chung quanh yên lặng như tờ, không xãy ra gì nguy hiểm, kỳ dị, họ liền tiến đến gần gốc cổ thụ, đã chết khô cả cành lá từ lâu và ngạc nhiên, cùng reo hò một lượt, như biểu lộ sự mừng rỡ hân hoan khi nhận thấy đôi rắn lớn nằm cuộn khúc đã chết rũ trong hốc cây đa tự bao giờ.

Cũng từ đấy sự yên ổn lần hồi trở lại với dân làng : các chứng bệnh thời khí, hại người, hại vật không còn hoành hành, gieo rắc tai họa đau thương như mấy tháng trước nữa.

Đồng thời, nạn hỏa hoạn cũng hết luôn, chất nước đỏ sẩm như máu tươi cũng không còn tiết ra suốt ngày đêm, trên nền nhà thờ khu cấm địa nữa.

Nhưng trong lúc dân làng vui mừng được hưởng thụ sự bình yên, tai qua nạn khỏi, không phải sống hồi họp, lo âu từng giờ từng phút trước cảnh đe dọa hải hùng, như tình trạng bi đát đã xãy ra sau ngày Thanh Lã tiên sinh bị bắt, chỉ riêng dòng họ nhà tiên sinh, liên tiếp phải chịu đủ thứ tai ương thảm khốc.

Người con trai lớn của tiên sinh, năm ấy mới mười tám tuổi, đang được tiên sinh ký thác cho ông Cử Ba ở phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để rèn luyện kinh sách, văn bài, chờ nạp quyển dự kỳ Hương Thí năm sau, bỗng không đau ốm gì lăn ra chết.

Ở quê nhà, hai đứa cháu gọi Thanh Lã tiên sinh bằng Bác họ, con trai hai người em họ, thuộc về hai chi dưới trong dòng họ của tiên sinh, cũng tự nhiên trợn mắt, sùi bọt mép, ngã quay dưới đất, rồi cứ thế, lịm dần... tắt thở.

Nhưng đau đớn hơn hết, là trường hợp đứa con út của tiên sinh, mới ra chào đời một tháng, sau ngày hoàn thành khu từ đường, mà tiên sinh yên trí đó là đứa trẻ thụ hưởng sự kết phát hiển hách hơn hết cả, trong bao nhiêu người khác ở trong họ. Mà quả thực đứa trẻ này cũng có nhiều điểm dị kỳ, khác hẳn những hài nhi cùng trang lứa, vì hôm hạ sanh nó, đúng vào giờ Tí ngày mùng một tháng tám, trong căn buồng kín mít, chỉ le lói có một ngọn đèn dầu tràm, bỗng lờ mờ như có anh trăng lọt qua khe cửa, mặc dù lúc bấy giờ, nhằm vào nửa đêm đầu tháng, cả bầu trời như trùm phủ một bức màn vỉ đại tối đen !

Rồi, ánh sáng lờ mờ, cứ mỗi phút một rõ ràng thêm, để đến lúc đứa bé chào đời, thì cả gian buồng tràn ngập ánh sáng êm dịu, như bóng trăng rằm chiếu rọi xuống giữa sân vậy !

Hiện tượng kỳ dị này, vụt biến mất ngay sau tiếng khóc đầu tiên chào đời của đứa bé, không những thế, liên tiếp theo đấy, trời đất bỗng dưng lại còn nổi cơn giông tố, sấm chớp ầm ầm, mưa tuôn sối sả, mãi tới gần sáng mới ngớt hạt.

Đứa bé khôi ngô, đỉnh ngộ lạ lùng. Nó cứng rắn khác hẳn những đứa trẻ sơ sinh và đặc biệt hơn nữa, ở lòng bàn tay bên trái, lại có một dấu son đỏ chói, giống hệt một chiếc ấn vuông vắn, còn bàn tay mặt thì ở ngón chính giữa, có một đường chỉ chạy dài rất rõ ràng, ăn thẳng từ đầu ngón tay xuống tới cườm tay, mà lạ lùng hơn cả, dưới lóng thứ ba, lại có một chỉ dài chạy ngang gần suốt lòng bàn tay, song song với một đường chỉ khác, ngắn hơn, nàm ngang trên cườm tay chừng hai ba phân, trông phảng phất như chữ " sĩ " vậy.

Đứa trẻ, trừ mấy tiếng oa oa lúc chào đời, suốt từ khi đẻ ra cho đến hôm Thanh Lã tiên sinh bị bắt, không hề khóc một tiếng nào.

Trái lại, nét mặt nó lúc nào cũng tươi tỉnh, như muốn chuẩn bị một nụ cười hồn nhiên giữa hai vành môi đỏ chót.

Nó hay ăn chóng lớn khác thường, biết lẫy, biết ngồi trước cả thời gian quy định trong ca dao, nên Thanh Lã tiên sinh yêu quí như nén vàng mười, thường tiên đoán : nó sẽ là thần đồng, ứng vào điểm kết phát hiển hách của kiểu đất " lưỡng long tranh châu" !

Nhưng " mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên ", lòng người dù muốn, mà trời xanh không cho, cũng không sao cưỡng nổi " thiên mạng ", mặc dù kẻ muốn soay chuyển thời cơ có đủ tài trí thông kim, bác cổ, quán triệt âm dương, am tường lý số !

Đó là trường hợp ông Thanh Lã, người nổi danh " Thánh sư địa lý " dưới triều Lê, một nhà phong thủy chân tài, thực học, đã khám phá được kiểu đất quý trong khu Hạc Hải, nhưng lại không có cái diểm phúc thụ hưởng và cam chịu sống trọn đời trong cảnh tối tăm đau khổ.

Hôm Thanh Lã tiên sinh bị bắt, đứa trẻ vẫn ăn chơi, vui đùa như thường.

Nhưng từ ngày tiên sinh phải áp giải về nguyên quán để chứng kiến sự phá hủy ngôi từ đường, thì tự nhiên đứa bé bỏ ăn, suốt ngày đêm, khóc ra rả, dỗ dành thế nào cũng không chịu nín.

Rồi đến ngày mùng một tháng sáu, cũng đúng vào giờ Tí, nó bỗng thở rống lên mấy hơi dài, buông sui hai tay, mắt mở trừng trừng nhìn thẳng lên trần nhà...

Người nhà tưởng nó khóc nhiều, mệt mỏi, nằm nghỉ, nhưng khi sờ vào mình nó, thì toàn thân nó giá lạnh như đồng, tim mgừng đập từ bao giờ không rõ !

Sáng hôm ấy, chính là ngày ông Thanh Lã phải chịu cực hình : đổ chì vào hai mắt !

Làng Mía sau đấy bị xơ xác tiêu điều tới mấy chục năm ròng rã, cho mãi đến trận bảo lớn năm Nhâm Thìn, theo lời một nhà địa lý ở miền suôi, có dịp sinh sống nhiều năm quanh vùng Mông Phụ, Mông Sàng, khu cấm địa Hạc Hải mới phục hồi long mạch nguyên vẹn như trước.

Phi Khanh

Chia sẻ

Bình luận